Những điều cần biết về chứng COVID kéo dài

Chứng COVID kéo dài ( Long Covid) được coi là một nguy cơ đối với y tế cộng đồng ẩn sau đại dịch COVID-19.

Giới khoa học đang trong giai đoạn đầu phát triển và bào chế thuốc điều trị nhằm giảm các triệu chứng bệnh, đồng thời nghiên cứu những nguyên nhân chưa có lời giải về triệu chứng này.

Những điều cần biết về chứng COVID kéo dài - Hình 1
Nhân viên y tế chăm sóc bệnh nhân nhiễm COVID-19 tại bệnh viện ở Apple Valley, California, Mỹ. Ảnh: AFP/TTXVN

Mới đây, các nhà nghiên cứu thuộc Đại học bang Pennsylvania đã thực hiện một công trình nghiên cứu khổng lồ mới, trong đó phát hiện rằng hơn 50% trong số 236 triệu người mắc COVID-19, tính đến thời điểm tiến hành nghiên cứu, có các triệu chứng COVID kéo dài trong hơn 6 tháng.

Theo Giáo sư Amitava Banerjee thuộc Đại học University College London, cho tới nay các nỗ lực y tế chỉ mới tập trung vào việc điều trị bệnh nhân nặng và tránh nguy cơ t.ử v.ong, chứ chưa chú trọng đến điều trị triệu chứng của COVID kéo dài.

Cách xác định hội chứng COVID kéo dài:

COVID kéo dài là hiện tượng người mắc COVID phải có các triệu chứng trong 12 tuần hoặc hơn sau khi bị nhiễm bệnh. Một nghiên cứu mới đây của Anh phát hiện rằng cứ 3 người thì có 1 người khẳng định bị mắc chứng này trong vòng 1 năm sau khi được chẩn đoán mắc bệnh.

Bà Rachael Evans, nhà khoa học lâm sàng tại Viện nghiên cứu y tế quốc gia của Anh, nhấn mạnh tính cấp bách của việc tìm ra phương pháp điều trị triệu chứng của COVID kéo dài và việc chăm sóc y tế, qua đó giúp người bệnh chóng bình phục.

Những triệu chứng của COVID kéo dài:

Những triệu chứng thường gặp nhất của người bị COVID kéo dài là mệt mỏi và vấn đề về hô hấp. Thậm chí, một số người còn bị tổn thương nội tạng. Trong nghiên cứu về bệnh nhân COVID-19 sau khi nhập viện (PHOSP) của các nhà khoa học thuộc Đại học bang Pennsylvania, cứ 10 người thì có 1 người bị chứng suy giảm nhận thức, hay còn gọi là hội chứng sương mù não (Brain fog).

Bà Margaret O’Hara bị nhiễm virus SARS-CoV-2 vào tháng 4/2020. Điều tệ hơn, bà O Hara đã bị mắc chứng COVID kéo dài trong 1 năm và sau đó, vào tháng 10/2021, bà bị tái nhiễm và một lần nữa mắc hội chứng COVID kéo dài. Bà cho biết luôn cảm thấy mệt mỏi, kể sau khi thức dậy vào buổi sáng. Theo nhóm nghiên cứu, phụ nữ bị béo phì và những người đang dùng thiết bị trợ thở xâm lấn có nguy cơ cao mắc COVID kéo dài.

Nguyên nhân dẫn tới nguy cơ COVID kéo dài:

Tuy vẫn còn nhiều ẩn số về nguyên nhân gây ra COVID kéo dài, nghiên cứu PHOSP đã tìm ra “manh mối” dẫn tới giả thuyết rằng chứng COVID kéo dài là do phản ứng miễn dịch diễn ra liên tục – dấu hiệu của sự viêm nhiễm gia tăng. Theo các nhà khoa học, những người bị COVID kéo dài nghiêm trọng nhất là những người bị hội chứng sương mù não, bị viêm nhiễm ở mức độ cao nhất.

Giáo sư Stephen Holgate thuộc Đại học Southampton đồng thời là người đồng sáng lập công ty Synairgen, chuyên sản xuất thuốc điều trị COVID-19, cho hay hình ảnh chụp cắt lớp cho thấy nội tạng của người bệnh bị viêm. Theo ông Holgate, cơ thể người bệnh phản ứng mạnh với tình trạng viêm nhiễm trong thời gian mắc COVID-19. Các nhà nghiên cứu còn đưa ra giả thuyết khác về sự phản ứng miễn dịch quá mức, đó là việc virus SARS-CoV-2 tấn công vào những bộ phận trữ năng lượng của các tế bào còn gọi là ty thể.

Nỗ lực tìm kiếm phương pháp điều trị chứng COVID kéo dài

Cơ quan y tế quốc gia (NHS) của Anh và hệ thống y tế Mỹ đã thiết lập nhiều cơ sở điều trị COVID kéo dài. Tại những cơ sở này, người bệnh được hỗ trợ sức khỏe tinh thần và tập vật lý trị liệu.

Một số bác sĩ đã tính đến việc sử dụng các loại thuốc có ít tác dụng phụ mà họ tin rằng có thể có tác dụng phần nào trong việc điều trị COVID kéo dài. Những loại thuốc này cũng đa dạng, ví dụ như thuốc kháng histamin, thuốc ức chế cytokine nhằm xử lý tình trạng viêm nhiễm, thuốc kháng acid, thuốc ức chế beta và thuốc chống đông m.áu. Một nghiên cứu nhỏ gần đây của Đại học Cambridge đã đề xuất sử dụng kết hợp “vi khuẩn thân thiện” có thể giúp giảm bớt các triệu chứng đau ruột của triệu chứng COVID kéo dài và hỗ trợ cải thiện sức khỏe tổng thể.

Kỳ vọng về thuốc điều trị COVID kéo dài trong tương lai

Theo ông Bill Hinshaw, Giám đốc điều hành của công ty công nghệ sinh học Axcella Therapeutics có trụ sở tại Boston, hiện chưa có nhiều thuốc điều trị chứng COVID-19 đang trong quá trình thử nghiệm. Hãng Axcella Therapeutics và Đại học Oxford đang phát triển một loại thuốc giúp giảm viêm và phục hồi chức năng của ty thể. Các nhà khoa học kỳ vọng sẽ có dữ liệu thử nghiệm lâm sàng của thuốc này vào giữa năm 2022.

Trong khi đó, công ty công nghệ sinh học PureTech Health đang nghiên cứu một loại thuốc điều trị tổn thương mô phổi và thuốc này đang được thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 2. Ông Michael Chen, người đứng đầu bộ phận đổi mới của PureTech Health, cho biết gần một nửa số người mắc COVID kéo dài bị khó thở, có nghĩa là hàng triệu người có thể bị sẹo ở phổi.

Triệu chứng ‘long COVID’ ở t.rẻ e.m và thanh thiếu niên không kéo dài quá 12 tuần

Kết quả đ.ánh giá 14 nghiên cứu quốc tế cho thấy các triệu chứng mắc COVID-19 kéo dài (long COVID) ở t.rẻ e.m và thanh thiếu niên thường chấm dứt sau 12 tuần.

Triệu chứng long COVID ở t.rẻ e.m và thanh thiếu niên không kéo dài quá 12 tuần - Hình 1
Nhân viên y tế lấy mẫu xét nghiệm COVID-19 cho t.rẻ e.m tại Amsterdam, Hà Lan. Ảnh: AFP/TTXVN

Kết quả đ.ánh giá, đăng tải trên tạp chí Pediatric Infectious Disease Journal, chỉ ra các triệu chứng “long COVID” ở trẻ nhỏ và thanh thiếu niên ít xảy ra hơn so với lo ngại trước đó. Đ.ánh giá thực hiện với 14 nghiên cứu quốc tế bao gồm các dữ liệu từ 19.426 trẻ nhỏ và thanh thiếu niên có các triệu chứng “long COVID” sau khi mắc bệnh. Đồng tác giả nghiên cứu, Giáo sư Nigel Curtis, chuyên gia dịch bệnh truyền nhiễm t.rẻ e.m tại Viện nghiên cứu t.rẻ e.m Murdoch (Australia), cho rằng cần nghiên cứu thêm để có thể xác định chính xác nguy cơ xuất hiện các triệu chứng “long COVID” ở nhóm trẻ t.uổi, đặc biệt là để có thêm căn cứ quyết định về việc tiêm phòng cho trẻ dưới 12 t.uổi.

Hiện vẫn chưa có những tiêu chuẩn lâm sàng rõ ràng để chẩn đoán hay xác định thời gian tồn tại của hội chứng “long COVID” ở những người từng mắc COVID-19. Hội chứng này hiện nay bao gồm hơn 200 triệu chứng đã được ghi nhận. Theo Giáo sư Curtis, vì không có tiêu chuẩn để đ.ánh giá hay kiểm tra nên hiện rất khó để phân biệt hội chứng này với những biểu hiện khác do những tác động khác như các biện pháp phong tỏa hay những tác động gián tiếp của dịch COVID-19.

Trong các nghiên cứu được đ.ánh giá, 5 triệu chứng thường gặp nhất ở trẻ nhỏ và thanh thiếu niên mắc hội chứng “long COVID” là đau đầu, mệt mỏi, rối loạn giấc ngủ, đau bụng và mất tập trung. Tuy nhiên, một số nghiên cứu thực hiện với những nhóm có kiểm soát, tỷ lệ người mắc những triệu chứng trên ở nhóm những người từng mắc COVID-19 và nhóm chưa từng mắc COVID-19 là tương đương.

Trong phần lớn các nghiên cứu, những triệu chứng này không kéo dài quá 12 tuần. Tuy nhiên, Giáo sư Curtis vẫn muốn các bậc phụ huynh tiếp tục lưu ý tác động của “long COVID” ở các con em mình vì hội chứng này dù chưa được xác định rõ ràng nhưng có tồn tại và đó là lý do vì sao các nhà khoa học vẫn đang tiếp tục nghiên cứu để có thể phát hiện và điều trị tốt hơn hội chứng này.

Một nghiên cứu riêng rẽ của Viện nghiên cứu sức khỏe t.rẻ e.m Murdoch về COVID-19 với t.rẻ e.m chỉ ra so với các biến thể khác, biến thể Delta của virus SARS-CoV-2 không làm gia tăng nguy cơ bệnh nặng ở t.rẻ e.m dù nguy cơ lây nhiễm cao hơn do khả năng lây lan của biến thể này vượt trội những biến thể khác.

Theo Giáo sư Curtis, số ca nhập viện và cần chăm sóc tích cực ở t.rẻ e.m vẫn rất thấp, phần lớn t.rẻ e.m nhập viện do COVID-19 hồi phục và xuất viện nhanh chóng, việc nhập viện điều trị cũng là để phòng ngừa nguy cơ diễn biến xấu. Tuy nhiên, nghiên cứu lưu ý trẻ nhỏ và thanh thiếu niên có bệnh nền như béo phì, bệnh thận mạn tính và rối loạn miễn dịch, có nguy cơ bệnh nặng cao hơn gấp 25 lần so với người bình thường.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *