Thói quen đơn giản giúp giảm 80% nguy cơ t.ử v.ong do ung thư

Ngày càng có nhiều bằng chứng rõ ràng cho thấy những thói quen hằng ngày có thể ảnh hưởng đến nguy cơ mắc ung thư.

Và có một yếu tố đáng ngạc nhiên ảnh hưởng đến nguy cơ phát triển ung thư, đó là vệ sinh răng miệng, theo Express.

Một số nghiên cứu chỉ ra rằng bệnh về nướu có thể làm tăng đáng kể nguy cơ t.ử v.ong do ung thư.

Thói quen đơn giản giúp giảm 80% nguy cơ t.ử v.ong do ung thư - Hình 1

Nhiều bằng chứng cho thấy vệ sinh răng miệng tốt là yếu tố then chốt để kéo dài t.uổi thọ. Ảnh SHUTTERSTOCK

Nhiều bằng chứng cho thấy vệ sinh răng miệng tốt là yếu tố then chốt để kéo dài t.uổi thọ, vì vi khuẩn chứa trong miệng có thể tạo t.iền đề cho nhiều loại bệnh.

Bác sĩ Michael Roizen, Giám đốc Viện Sức khỏe tại Cleveland Clinic (Mỹ), giải thích rằng dùng chỉ nha khoa đúng cách trong 60 giây mỗi ngày có thể kéo dài thêm 6,4 năm t.uổi thọ.

Nguyên nhân là do vi khuẩn nằm giữa răng trong miệng có thể gây n.hiễm t.rùng trong miệng và có thể làm tăng 72% nguy cơ mắc bệnh tim, theo bác sĩ Roizen. Và điều này cũng có thể ảnh hưởng đến nguy cơ ung thư.

Các nhà nghiên cứu tại Viện Karolinska và Đại học Helsinki (Thụy Điển) đã báo cáo trên tạp chí y khoa Medical Journal Open rằng những người có nhiều mảng bám răng có nguy cơ c.hết sớm vì ung thư cao hơn 80% so với những người có ít mảng bám, theo Express.

Điều này có nghĩa là vệ sinh răng miệng tốt là yếu tố then chốt giúp ngăn ngừa đến 80% nguy cơ c.hết sớm vì ung thư và kéo dài t.uổi thọ.

Dữ liệu được thu thập từ hơn 98.000 phụ nữ và hơn 49.000 nam giới tham gia vào 2 nghiên cứu lớn của Trường Y tế Công cộng Harvard T.H Chan, đã tìm hiểu mối liên quan giữa bệnh nướu răng và ung thư, đã đưa ra phát hiện đáng báo động.

Nhà nghiên cứu Mingyang Song, Phó giáo sư dịch tễ học lâm sàng và dinh dưỡng tại Trường Y tế Công cộng Harvard T.H Chan (Mỹ), xác nhận rằng mối liên quan giữa hai căn bệnh này là rất mạnh mẽ.

Ông Song nói, những người bị bệnh nha chu và mất răng nhiều hơn có nguy cơ cao hơn mắc đến 2 loại ung thư đường tiêu hóa.

Thói quen đơn giản giúp giảm 80% nguy cơ t.ử v.ong do ung thư - Hình 2

Những người có nhiều mảng bám răng có nguy cơ c.hết sớm vì ung thư cao hơn 80%. Ảnh SHUTTERSTOCK

Kết quả đã cho thấy những người bị viêm nha chu không rụng răng có nguy cơ ung thư dạ dày tăng 50%, trong khi những người kèm thêm rụng răng có nguy cơ ung thư dạ dày tăng đến 68%, theo Express.

Các nhà nghiên cứu cho rằng tình trạng viêm do bệnh nướu răng gây ra làm tăng nguy cơ ung thư.

Thực tế, những người bị viêm nha chu có xu hướng bị viêm toàn thân cao hơn, đây là một dấu hiệu đặc trưng của ung thư.

Các giả thuyết khác cho rằng vi khuẩn chứa trong miệng của những người bị bệnh nướu răng có thể góp phần gây ra ung thư.

Hơn nữa, các chuyên gia cho rằng bệnh nướu răng không được điều trị càng lâu thì nguy cơ ung thư càng cao, theo Express.

Dấu hiệu của bệnh nướu răng

Các dấu hiệu cảnh báo của bệnh nướu răng bao gồm nướu bị c.hảy m.áu khi đ.ánh răng và khi xỉa răng bằng chỉ nha khoa và hôi miệng dai dẳng.

Nướu bị tụt ra khỏi răng hoặc bị lung lay cũng có thể là dấu hiệu của bệnh.

Vi khuẩn gây viêm nha chu thường là do vệ sinh kém, tạo điều kiện cho mảng bám – là lớp màng vi khuẩn, tích tụ trên răng và cứng lại.

Vi khuẩn này chứa mầm bệnh có khả năng lây lan từ miệng sang các con đường khác của cơ thể, phá hủy mô.

Viêm nha chu còn gây ra các bệnh thoái hóa thần kinh như Parkinson và chứng sa sút trí tuệ.

Có nên kiểm tra toàn cơ thể tầm soát ung thư?

Chụp chiếu, xét nghiệm toàn bộ cơ thể tìm ung thư gây tốn kém và không hiệu quả, có thể khiến hoang mang hoặc yên tâm giả tạo, theo các bác sĩ.

Tầm soát ung thư là phương pháp phát hiện sớm bệnh ung thư trước khi triệu chứng lâm sàng xuất hiện. Bác sĩ sẽ hỏi t.iền sử bệnh cá nhân, gia đình đồng thời thăm khám lâm sàng và làm một số xét nghiệm. Từ đó, người dân có kế hoạch chăm sóc, theo dõi sức khỏe và chuẩn bị định hướng điều trị (nếu mắc), giúp tăng cơ hội khỏi bệnh, tăng hiệu quả điều trị, giảm tỷ lệ t.ử v.ong, giảm chi phí chữa bệnh so với việc phát hiện bệnh ở giai đoạn muộn.

“Tuy nhiên, không ai tự dưng đi kiểm tra chụp chiếu, làm xét nghiệm tất cả các bộ phận trên cơ thể để tìm bệnh ung thư. Điều này gây tốn kém và không hiệu quả”, bác sĩ Phạm Văn Thái (Phó giám đốc, Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu, Bệnh viện Bạch Mai) cho biết. Hơn nữa, một số loại bệnh ung thư trong một số trường hợp không có biểu hiện bất thường trên các các phương tiện chẩn đoán khi bệnh ở giai đoạn sớm.

Tầm soát ung thư thường áp dụng trên những đối tượng nguy cơ cao mặc bệnh ung thư nào đó, thường liên quan đến những nhóm t.uổi nhất định, ví dụ: ung thư vú ở phụ nữ trên 40 t.uổi hoặc người có nguy cơ ung thư di truyền.

Cùng quan điểm, bác sĩ Thân Văn Thịnh, Khoa Khám bệnh, Bệnh viện Ung bướu Hà Nội, nhận định nhiều người đi khám tầm soát ung thư với tâm lý lo lắng, sợ hãi nên yêu cầu được xét nghiệm tổng thể. Tuy nhiên, việc kiểm tra chụp chiếu hay làm xét nghiệm tất cả bộ phận trên cơ thể để tìm ung thư không hiệu quả.

“Thậm chí, nhiều gói tầm soát ung thư còn mang tính kinh doanh, không có lợi cho người được tầm soát. Xét nghiệm tràn lan còn gây tâm lý hoang mang hoặc yên tâm giả tạo cho người xét nghiệm”, bác sĩ Thịnh nói.

Để khám sàng lọc ung thư, tùy theo triệu chứng lâm sàng, t.iền sử gia đình của người bệnh mà bác sĩ sẽ chỉ định xét nghiệm phù hợp và cần thiết như xét nghiệm m.áu, nội soi, siêu âm… Khi có dấu hiệu nghi ngờ sẽ tiến hành chụp CT, chụp MRI, chụp PET/CT… và nhiều xét nghiệm chuyên sâu khác. Các bác sĩ sẽ dựa vào những kết quả này để đưa ra kết quả chẩn đoán cuối cùng.

Có nên kiểm tra toàn cơ thể tầm soát ung thư? - Hình 1

Để có kết quả chẩn đoán bệnh tốt, người dân nên lựa chọn cơ sở y tế uy tín, chất lượng chuyên môn tốt để đảm bảo việc tầm soát hiệu quả tốt nhất. Ảnh: Bác sĩ cung cấp

Theo bác sĩ, người dân nên khám sàng lọc bệnh ung thư phổ biến như ung thư vú, phổi, gan, dạ dày…

Ung thư vú và ung thư cổ tử cung là hai loại phổ biến gây t.ử v.ong hàng đầu ở nữ giới. Theo Tổ chức ghi nhận Ung thư thế giới (GLOBOCAN 2018), tại Việt Nam, ung thư vú đứng hàng đầu về tỷ lệ mắc ở nữ giới với 15.229 ca (chiếm 20,6%) và đứng thứ 4 về tỷ lệ t.ử v.ong với 6.113 ca (chiếm 13,87%). Ung thư cổ tử cung đứng thứ 7 về tỷ lệ mắc mới ở nữ giới với 4.177 ca (chiếm 5,65%) và đứng thứ 7 về tỷ lệ t.ử v.ong với 2.420 ca (chiếm 5,50%).

Đối với ung thư vú, yếu tố nổi bật nhất là t.iền sử gia đình có người mắc bệnh này. Ngoài ra có sự liên quan tới đột biến gene, có kinh lần đầu tiên sớm, sinh con đầu lòng muộn. Tự khám vú là phương pháp ít tốn kém và vô hại, có thể thực hiện mỗi tháng một lần và khám sau khi sạch kinh khoảng 5 ngày. Phụ nữ tự khám vú thường xuyên có thể phát hiện bệnh ngay từ khi khối u còn nhỏ. Phụ nữ trên 40 t.uổi được khuyến cáo nên chụp nhũ ảnh mỗi năm một lần.

Trong khi đó, phương pháp chính trong sàng lọc ung thư cổ tử cung là Pap test – lấy tế bào vùng cổ tử cung bằng que (Pap smear) hoặc qua bàn chải nhỏ (Thinprep). Mẫu bệnh phẩm sẽ được kiểm tra dưới kính hiển vi và đ.ánh giá sự bất thường của tế bào cổ tử cung. Nếu phát hiện có tế bào bất thường, bệnh nhân được soi cổ tử cung và sinh thiết giúp chẩn đoán bệnh ở giai đoạn sớm.

Một số bệnh ung thư khác như ung thư phổi có thể chụp cắt lớp vi tính liều thấp (low-dose CT scan), ung thư gan cần phối hợp siêu âm ổ bụng và bộ ba xét nghiệm m.áu AFP, AFP-L3, PIVKA II.

Ung thư dạ dày thường không có biểu hiện rõ ràng, dễ gây nhầm lẫn với những bệnh lý thông thường khác. Khi xuất hiện những dấu hiệu rõ ràng thì cũng là lúc bệnh tiến triển nặng. Bạn nên sàng lọc ung thư dạ dày bằng nội soi dạ dày định kỳ để phát hiện những tổn thương ác tính ở giai đoạn rất sớm.

Tầm soát ung thư có chính xác hay không là băn khoăn của rất nhiều người. Hiện, y học ngày càng phát triển với những kỹ thuật máy móc hiện đại; độ nhạy, độ đặc hiệu, độ chính xác của các kỹ thuật chẩn đoán được nâng cao. Tuy nhiên, rất khó có một kỹ thuật đảm bảo độ chính xác 100%. Vì vậy, để có kết quả chẩn đoán bệnh tốt, người dân nên lựa chọn cơ sở y tế uy tín, chất lượng chuyên môn cao giúp việc tầm soát hiệu quả.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *